Nguy cơ tuyệt đối (Absolute risk)

Nguy cơ tuyệt đối đo lường mức nguy cơ trong một người hoặc một nhóm người. Nguy cơ tuyệt đối này có thể là nguy cơ mắc một bệnh trong một giai đoạn nào đó hoặc có thể là cách đo lường hiệu quả của một biện pháp điều trị chẳng hạn như là nguy cơ giảm đi bao nhiêu sau điều trị ở một người hoặc một nhóm người.Bạn đang xem: Prospective study là gì

Có nhiều cách biểu thị nguy cơ tuyệt đối khác nhau. Chẳng hạn như một người nào đó có 1 trong 10 nguy cơ mắc một bệnh nhất định thì có “nguy cơ 10%” hoặc “nguy cơ 0,1”, tùy thuộc vào dùng phần trăm hay số thập phân. Nguy cơ tuyệt đối không so sánh các thay đổi về nguy cơ giữa các nhóm, chẳng hạn như thay đổi nguy cơ ở một nhóm được điều trị so với thay đổi nguy cơ ở một nhóm không được điều trị. Đó là chức năng của chỉ số nguy cơ tương đối (relative risk).

Bạn đang xem: Prospective study là gì

Nghiên cứu trước và sau (Before and after study)

Nghiên cứu trước và sau đo lường các đặc trưng cụ thể của một quần thể dân số hoặc một nhóm cá nhân ở cuối một biến cố hoặc cuối một biện pháp can thiệp y tế và so sánh chúng với những đặc trưng trước biến cố hoặc trước điều trị. Nghiên cứu này tính toán những tác động của một biến cố hay tác dụng của một biện pháp can thiệp.

Giấu/Mù (Blinding)

Giấu/Mù là không cho đối tượng thực nghiệm biết họ được điều trị bằng biện pháp nào hoặc trong một số trường hợp là không cho họ biết kết quả điều trị. Hành động này là để tránh họ bị ảnh hưởng khi biết được thông tin đó. Người bị giấu có thể là người được điều trị hoặc nhà nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị (giấu một bên/ blind), hoặc cả hai đối tượng này đều bị giấu (giấu hai bên/mù đôi).

Nghiên cứu bệnh chứng (Case-control study)

Nghiên cứu bệnh chứng là một loại nghiên cứu dịch tễ học (epidemiological study) mà thường được dùng để xác định các yếu tố nguy cơ của một vấn đề sức khỏe. Loại nghiên cứu này so sánh một nhóm bệnh nhân có vấn đề đó với một nhóm bệnh nhân không có và nhìn lại theo thời gian xem các đặc trưng của hai nhóm khác nhau như thế nào.

Nghiên cứu bệnh-bắt chéo (Case crossover studies)

Nghiên cứu bệnh-bắt chéo xem xét ảnh hưởng của những yếu tố mà được cho là gia tăng nguy cơ của một kết quả cụ thể trong thời gian ngắn. Ví dụ như loại nghiên cứu này có thể được dùng để đánh giá những ảnh hưởng của thay đổi trong nồng độ ô nhiễm không khí đối với nguy cơ lên cơn hen suyễn ngắn hạn. Những cá nhân đã được xác định có kết quả mong muốn và giữ tư cách là chính ca (đối) chứng (control) của họ.

Nghiên cứu đánh giá ngay lập tức sự hiện diện hay thiếu vắng yếu tố nguy cơ vào giai đoạn trước khi cá nhân có kết quả. Điều này được so sánh với sự xuất hiện hay thiếu vắng yếu tố nguy cơ khi cá nhân không trải qua kết quả (giai đoạn đối chứng). Nếu có mối liên hệ giữa yếu tố nguy cơ này và kết quả, thì yếu tố đó sẽ được kỳ vọng là đã xuất hiện thường xuyên hơn trong giai đoạn trước khi có kết quả hơn là trong giai đoạn đối chứng.

Nghiên cứu đợt bệnh (Case series)

Nghiên cứu đợt bệnh là nghiên cứu mô tả về một nhóm người thường được điều trị giống nhau hoặc những người mắc cùng một bệnh. Loại nghiên cứu này có thể mô tả đặc trưng hoặc kết quả của một nhóm người cụ thể nhưng không thể xác định được so với những người được điều trị cách khác hoặc những người không có vấn đề sức khỏe đó thì như thế nào.

Nguyên tắc thực hành lâm sàng (Clinical practice guidelines)

Nguyên tắc thực hành lâm sàng là những hướng dẫn được phát triển để trợ giúp nhân viên y tế và bệnh nhân đưa ra quyết định về loại hình y tế thích hợp dành cho những hoàn cảnh lâm sàng chuyên biệt cụ thể.

Thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng theo cụm (Cluster randomised controlled trial)

Trong một nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng theo cụm thì đối tượng nghiên cứu được phân ngẫu nhiên vào các nhóm (cụm) hơn là phân cá nhân. Ví dụ về các cụm mà có thể được dùng bao gồm trường học, khu dân cư hoặc phòng khám bệnh của Bác sĩ chuyên khoa (GP surgeries).


*

Có thể bạn quan tâm: Bột ngũ cốc nảy mầm đầy đủ tinh bột chậm, chất đạm tốt, chất xơ có trong lớp vỏ hạt dồi dào, vitamin, khoáng chất... Một khẩu phần ngũ cốc bạn có thể ăn thay bữa sáng, bữa phụ, ăn thêm vào bữa chính để giảm lượng thức ăn như thịt, cá, cơm trắng...Bạn xem bài viết chi tiết ở đây: Bột ngũ cốc nảy mầm

Nghiên cứu đoàn hệ (Cohort study)

Nghiên cứu này xác định một nhóm người và theo dõi họ trong một giai đoạn thời gian để xem phơi nhiễm của họ ảnh hưởng thế nào đến kết quả. Loại nghiên cứu này bình thường được dùng để xem xét tác dụng của những yếu tố nguy cơ hoài nghi mà không thể đối chứng được bằng thử nghiệm, chẳng hạn như ảnh hưởng của hành vi hút thuốc lá đối với bệnh ung thư phổi.

Khoảng tin cậy (Confidence interval)

Khoảng tin cậy (CI) biểu thị độ chính xác của một ước tính và thường đi cùng với kết quả của một nghiên cứu (thường khoảng tin cậy là 95%). CI cho biết giới hạn trong đó chúng ta tự tin rằng kết quả thực sự từ một nhóm dân số sẽ nằm trong 95% thời gian. Khoảng càng hẹp thì ước tính càng chính xác. Hẳn nhiên sẽ có tính không chắc chắn nào đó trong các ước tính bởi vì nghiên cứu được tiến hành dựa trên mẫu và không phải toàn bộ dân số.

Theo quy ước thì độ chắc chắn 95% được xem như đủ cao để các nhà nghiên cứu rút ra kết luận mà có thể khái quát hóa mẫu đại diện cho quần thể. Nếu chúng ta đang so sánh hai nhóm dùng các chỉ số đo lường tương đối như là nguy cơ tương đối (relative risk) hay tỉ số chênh (odds ratios), và thấy rằng khoảng tin cậy 95% bao gồm giá trị của một ước tính trong giới hạn tin cậy của khoảng này thì ta có thể nói rằng không có khác biệt giữa các nhóm. Khoảng tin cậy này cho ta biết rằng ít nhất trong một số khoảng thời gian, tỉ lệ hiệu quả tác động giữa các nhóm là trùng nhau. Tương tự, nếu một biện pháp đo lường hiệu quả tuyệt đối, như là chênh lệch trung bình giữa các nhóm, có khoảng tin cậy 95% mà bao gồm giá trị 0 trong giới hạn tin cậy của nó thì ta có thể kết luận rằng không có khác biệt giữa các nhóm.

Xem thêm: Lệnh Allintitle Là Gì ? Câu Lệnh "Thần Chú" Giúp Seoer Phân Tích

Yếu tố gây nhiễu (Confounding factor/confounder)

Một yếu tố gây nhiễu có thể bóp méo mối quan hệ đích thực giữa hai (hoặc nhiều) đặc tính. Khi không tính đến yếu tố này thì có thể đưa ra các kết luận sai về các mối liên quan. Một ví dụ là để kết luận được rằng nếu những người mà đem theo bật lửa sẽ dễ bị ung thư phổi, thì đó là vì mang bật lửa gây ung thư phổi. Trong thực tế, hút thuốc là một yếu tố gây nhiễu ở đây. Những người mang bật lửa thì dễ là người hút thuốc hơn và những người hút thuốc thì dễ bị ung thư phổi hơn.

Nhóm đối chứng (Control group)

Nhóm đối chứng (chẳng hạn như của tế bào, cá nhân hoặc các trung tâm) có vai trò làm cơ sở so sánh trong một nghiên cứu). Trong nhóm này các thành viên không được nhận tác nhân kích thích của thí nghiệm (experimental stimulus).

Nghiên cứu cắt ngang (Cross sectional study)

Đây là một loại nghiên cứu dịch tễ học (epidemiological study) mà mô tả các đặc trưng của một quần thể. Nghiên cứu này “cắt ngang” (cross sectional) là vì dữ liệu được thu tại một điểm thời gian và cân nhắc đến mối quan hệ giữa các đặc tính. Quan trọng là bởi vì nghiên cứu này không xem xét xu hướng thời gian nên không thể thiết lập được cái gì gây ra cái gì.

Nghiên cứu chẩn đoán (Diagnostic study)

Nghiên cứu chẩn đoán kiểm tra một phương pháp chẩn đoán mới để xem liệu nó có tốt bằng phương pháp chẩn đoán bệnh theo “chuẩn vàng” (gold standard) không. Phương pháp chẩn đoán có thể được dùng khi người ta bị nghi là mắc bệnh do các dấu hiệu và triệu chứng, hoặc để cố gắng và tìm ra một căn bệnh trước khi phát sinh bất cứ triệu chứng nào (phương pháp sàng lọc/screening method).

Nghiên cứu sinh thái (Ecological studies)

Trong các nghiên cứu sinh thái, đơn vị nghiên cứu là quần thể hoặc cộng đồng dân cư. Các loại nghiên cứu sinh thái phổ biến là so sánh địa lý, phân tích xu hướng thời gian hoặc nghiên cứu di cư.

Dịch tễ học (Epidemiology)

Dịch tễ học là nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe và bệnh tật của các quần thể dân số.

Thí nghiệm (Experiment)

Một thí nghiệm là bất cứ nghiên cứu nào mà trong đó các điều kiện sức khỏe thuộc sự kiểm soát trực tiếp của nhà nghiên cứu. Điều này thường bao gồm can thiệp vào một nhóm người mà đáng lẽ ra sẽ không phát sinh theo tự nhiên.Các thí nghiệm thường được dùng để thử nghiệm kiểm tra các tác dụng của một biện pháp điều trị ở mọi người và thường bao gồm so sánh với một nhóm không được điều trị.

Biểu hiện gien (Gene expression)

Biểu hiện gien là một thuật ngữ được dùng để mô tả ảnh hưởng mà “thông tin” có trong các gien có thể gây ra ở mức độ tế bào – trong hầu hết các trường hợp thì là về cách tạo ra những protein chuyên biệt.

Nghiên cứu tương quan toàn bộ nhiễm sắc thể (Genome-wide association study)

Nghiên cứu này đánh giá toàn bộ trình tự di truyền (hệ gien) để xác định những biến dị trong trình tự này mà phổ biến hơn ở những người có đặc trưng hoặc vấn đề cụ thể và có thể liên quan đến việc gây ra đặc trưng hoặc vấn đề đó.

Tỉ lệ rủi ro (Hazard Ratio)

Một cách tính toán xác suất tương đối của một biến cố trong hai nhóm theo thời gian.

Nó tương tự với nguy cơ tương đối (relative risk), nhưng tỉ lệ này có xem xét đến thực tế rằng một khi những người gặp các loại biến cố nhất định như là tử vong, thì họ không còn có nguy cơ gặp phải biến cố đó nữa.

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *